THÀNH PHẦN: Mỗi viên nén bao phim chứa:
DẠNG BÀO CHẾ: Viên nén bao phim màu nâu, tròn, hai mặt lồi, một mặt khắc “250” và một mặt trơn.
ĐÓNG GÓI: Hộp 3 vỉ x 10 viên.
CHỈ ĐỊNH
Gefitinib được chỉ định dưới dạng đơn trị liệu để điều trị cho bệnh nhân người lớn bị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) tiến triển tại chỗ hoặc di căn có đột biến hoạt hóa EGFR-TK (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
LIỀU DÙNG VÀ CÁCH DÙNG
Điều trị bằng gefitinib nên được bắt đầu và giám sát bởi một bác sĩ có kinh nghiệm khi sử dụng các liệu pháp chống ung thư.
Liều dùng:
Liều khuyến cáo của gefitinib là một viên 250 mg, một lần mỗi ngày. Nếu quên một liều, nên dùng liều đó ngay khi bệnh nhân nhớ ra. Nếu dưới 12 giờ cho đến liều kế tiếp, bệnh nhân không nên dùng liều đã quên. Bệnh nhân không nên dùng một liều gấp đôi (2 liều cùng một lúc) để bù cho liều đã quên
Nhóm bệnh nhân trẻ em
Độ an toàn và hiệu quả của gefitinib ở trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định. Không có sử dụng xác đáng nào của gefitinib ở nhóm bệnh nhân trẻ em về chỉ định ung thư phổi không tế bào nhỏ.
Suy gan
Những bệnh nhân suy gan từ trung bình đến nặng (Child-Pugh loại B hoặc C) do xơ gan có tăng nồng độ gefitinib trong huyết tương. Cần theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân này về các biến cố bất lợi. Nồng độ trong huyết tương không tăng ở bệnh nhân tăng aspartat transaminase (AST), phosphatase kiềm hoặc bilirubin do di căn gan (xem phần Đặc tính dược động học).
Suy thận
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy chức năng thận có độ thanh thải creatinin > 20 ml/phút. Chỉ có dữ liệu hạn chế ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ≤ 20 ml/phút và nên thận trọng ở những bệnh nhân này (xem phần Đặc tính dược động học).
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều dựa trên tuổi bệnh nhân (xem phần Đặc tính dược động học).
Người chuyển hóa CYP2D6 kém
Khuyến cáo không nên điều chỉnh liều đặc biệt ở những bệnh nhân đã biết có kiểu gen chuyển hóa CYP2D6 kém, nhưng cần theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân này về các biến cố bất lợi (xem phần Đặc tính dược động học).
Điều chỉnh liều do độc tính
Bệnh nhân bị tiêu chảy do kém dung nạp hoặc phản ứng bất lợi ở da có thể được xử trí thành công bằng cách tạm ngưng điều trị trong thời gian ngắn (tối đa 14 ngày), sau đó dùng lại liều 250 mg (xem phần Tác dụng không mong muốn của thuốc). Đối với những bệnh nhân không thể dung nạp điều trị sau khi tạm ngưng thuốc, nên ngừng sử dụng gefitinib và nên xem xét một điều trị thay thế.
Cách dùng:
Có thể uống viên nén cùng hoặc không cùng với thức ăn, vào khoảng cùng một thời điểm mỗi ngày. Có thể uống nguyên cả viên với một ít nước hoặc nếu không thể uống nguyên cả viên thì có thể dùng dưới dạng phân tán trong nước (không có carbonat). Không nên sử dụng các chất lỏng khác. Không nghiền nát viên thuốc, nên thả viên thuốc vào nửa ly nước uống. Thỉnh thoảng nên lắc ly cho đến khi viên nén được phân tán (việc này có thể mất tới 20 phút). Phải uống dịch phân tán ngay lập tức sau khi sự phân tán hoàn toàn (tức là trong vòng 60 phút). Cần tráng ly bằng nửa ly nước và cũng cần uống lượng nước này. Cũng có thể sử dụng phân tán qua ống thông mũi-dạ dày hoặc ống thông dạ dày.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc.
Phụ nữ cho con bú (xem phần Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú).
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC
Trong khi điều trị với gefitinib, chứng suy nhược đã được báo cáo. Vì vậy, những bệnh nhân gặp phải triệu chứng này cần thận trọng khi lái xe hoặc sử dụng máy móc.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Phụ nữ có khả năng mang thai
Phụ nữ có khả năng mang thai phải được khuyên không nên có thai trong khi điều trị.
Phụ nữ có thai
Không có dữ liệu từ việc sử dụng gefitinib ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có độc tính đối với sinh sản (xem phần Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng). Chưa rõ nguy cơ tiềm ẩn đối với người. Không nên sử dụng gefitinib trong khi mang thai trừ khi thật sự cần thiết.
Phụ nữ cho con bú
Chưa rõ liệu gefitinib có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Gefitinib và các chất chuyển hóa của gefitinib tích lũy trong sữa của chuột cống cho con bú (xem phần Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng). Chống chỉ định dùng gefitinib trong khi cho con bú và do đó phải ngừng cho con bú trong khi điều trị bằng gefitinib (xem phần Chống chỉ định).
TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC
Tương tác của thuốc
Sự chuyển hóa của gefitinib là qua isoenzym CYP3A4 cytochrom P450 (chủ yếu) và qua CYP2D6.
Các hoạt chất có thể làm tăng nồng độ gefitinib trong huyết tương
Các nghiên cứu in vitro đã cho thấy gefitinib là cơ chất của p-glycoprotein (Pgp). Dữ liệu hiện có không cho thấy bất kỳ hậu quả lâm sàng nào đối với phát hiện in vitro này.
Các chất ức chế CYP3A4 có thể làm giảm độ thanh thải của gefitinib. Sử dụng đồng thời với thuốc ức chế mạnh hoạt tính của CYP3A4 (ví dụ ketoconazol, posaconazol, voriconazol, thuốc ức chế protease, clarithromycin, telithromycin) có thể làm tăng nồng độ gefitinib trong huyết tương. Sự tăng có thể có ý nghĩa lâm sàng vì các phản ứng bất lợi có liên quan đến liều dùng và nồng độ. Sự tăng có thể cao hơn ở những bệnh nhân riêng lẻ có kiểu gen chuyển hóa CYP2D6 kém. Điều trị trước bằng itraconazol (thuốc ức chế mạnh CYP3A4) đã dẫn đến tăng 80% diện tích dưới đường cong (AUC) trung bình của gefitinib ở những người tình nguyện khỏe mạnh. Trong các trường hợp điều trị đồng thời với thuốc ức chế mạnh CYP3A4, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ về các phản ứng bất lợi của gefitinib.
Không có dữ liệu về việc điều trị đồng thời với thuốc ức chế CYP2D6 nhưng các thuốc ức chế mạnh enzym này có thể làm tăng nồng độ gefitinib trong huyết tương khoảng 2 lần ở những người chuyển hóa mạnh CYP2D6 (xem phần Đặc tính dược động học). Nếu bắt đầu điều trị đồng thời với thuốc ức chế mạnh CYP2D6, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ về các phản ứng bất lợi của gefitinib.
Các hoạt chất có thể làm giảm nồng độ gefitinib trong huyết tương
Các chất gây cảm ứng hoạt tính của CYP3A4 có thể làm tăng chuyển hóa và làm giảm nồng độ gefitinib trong huyết tương, do đó làm giảm hiệu quả của gefitinib. Nên tránh dùng đồng thời với các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 (ví dụ phenytoin, carbamazepin, rifampicin, barbiturat hoặc St John’s wort/Hypericum perforatum). Điều trị trước bằng rifampicin (thuốc gây cảm ứng mạnh CYP3A4) ở những người tình nguyện khỏe mạnh đã làm giảm trung vị AUC của gefitinib 83% (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Các chất gây tăng kéo dài đáng kể pH dạ dày có thể làm giảm nồng độ gefitinib trong huyết tương và do đó làm giảm hiệu quả của gefitinib. Liều cao của thuốc kháng acid tác dụng ngắn có thể có tác dụng tương tự nếu dùng thường xuyên gần sát thời điểm dùng gefitinib. Sử dụng đồng thời gefitinib với ranitidin ở liều gây tăng kéo dài pH dạ dày ≥ 5 đã dẫn đến giảm trung vị AUC của gefitinib là 47% ở những người tình nguyện khỏe mạnh (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Đặc tính dược động học).
Các hoạt chất có thể có nồng độ trong huyết tương bị thay đổi do gefitinib
Các nghiên cứu in vitro đã cho thấy gefitinib có khả năng hạn chế trong việc ức chế CYP2D6. Trong một thử nghiệm lâm sàng ở các bệnh nhân, gefitinib được dùng đồng thời với metoprolol (cơ chất của CYP2D6). Điều này đã dẫn đến tăng nồng độ metoprolol 35%. Sự tăng này có thể có khả năng có ý nghĩa đối với cơ chất của CYP2D6 có chỉ số điều trị hẹp. Khi xem xét sử dụng cơ chất của CYP2D6 kết hợp với gefitinib, nên xem xét điều chỉnh liều của cơ chất của CYP2D6 đặc biệt đối với các sản phẩm có cửa sổ điều trị hẹp.
In vitro, gefitinib ức chế protein vận chuyển BCRP, nhưng chưa rõ ý nghĩa lâm sàng của phát hiện này.
Các tương tác tiềm tàng khác
Tăng tỷ số chuẩn hóa quốc tế (INR) và/hoặc các biến cố chảy máu đã được báo cáo ở một số bệnh nhân dùng đồng thời warfarin (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Tương kỵ của thuốc
Không áp dụng.
QUÁ LIỀU VÀ XỬ TRÍ
Không có điều trị đặc hiệu trong trường hợp quá liều gefitinib. Tuy nhiên, trong các thử nghiệm lâm sàng pha I, một số lượng bệnh nhân hạn chế đã được điều trị với liều hàng ngày lên đến 1,000 mg. Sự tăng tần suất và mức độ nặng của một số phản ứng bất lợi đã được quan sát thấy, chủ yếu là tiêu chảy và phát ban da. Các phản ứng bất lợi liên quan đến quá liều nên được điều trị triệu chứng; đặc biệt là tiêu chảy nặng cần được xử trí khi có chỉ định lâm sàng. Trong một nghiên cứu, một số lượng bệnh nhân hạn chế được điều trị hàng tuần với liều từ 1,500 mg đến 3,500 mg. Trong nghiên cứu này, nồng độ gefitinib không tăng khi tăng liều, các biến cố bất lợi chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình và phù hợp với hồ sơ về an toàn đã biết của gefitinib.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Các phản ứng bất lợi không được quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng, nhưng đã thấy trên động vật ở mức nồng độ tương tự như mức nồng độ lâm sàng và có thể có ý nghĩa đối với việc sử dụng lâm sàng như sau:
Teo biểu mô giác mạc và mờ do giác mạc
Hoại tử nhú thận;
Hoại tử tế bào gan và thâm nhập đại thực bào ở xoang gan và bạch cầu ưa eosin.
Dữ liệu từ các nghiên cứu phi lâm sàng (in vitro) cho thấy gefitinib có khả năng ức chế quá trình tái phân cực điện thế hoạt động của tim (ví dụ khoảng QT). Kinh nghiệm lâm sàng chưa cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa kéo dài khoảng QT và gefitinib.
Giảm khả năng sinh sản của giống cái đã được quan sát thấy ở chuột cống với liều 20 mg/kg/ngày.
Các nghiên cứu được công bố đã cho thấy chuột nhắt biến đổi về di truyền, thiếu biểu hiện của EGFR, xuất hiện các khiếm khuyết về phát triển, liên quan đến sự chưa trưởng thành của biểu mô ở nhiều cơ quan bao gồm da, đường tiêu hóa và phổi. Khi dùng gefitinib cho chuột cống trong giai đoạn hình thành cơ quan, không có ảnh hưởng nào đến sự phát triển của phôi-thai ở liều cao nhất (30 mg/kg/ngày), Tuy nhiên, ở thỏ, đã có giảm trọng lượng thai đến mức liều 20 mg/kg/ngày trở lên. Không có dị tật do hợp chất ở cả hai loài. Khi dùng cho chuột cống trong suốt thời kỳ mang thai và sinh đẻ, đã có sự giảm tỷ lệ sống của chuột con với liều 20 mg/kg/ngày.
Sau khi cho chuột cống cho con bú uống gefitinib có đánh dấu C-14, 14 ngày sau sinh, nồng độ phóng xạ trong sữa cao hơn 11-19 lần so với trong máu.
Gefitinib cho thấy không có tiềm năng gây độc gen.
Một nghiên cứu 2 năm về khả năng gây ung thư ở chuột cống đã dẫn đến tỷ lệ u tuyến tế bào gan tăng ít nhưng có ý nghĩa thống kê ở cả chuột cống đực và cái và sarcoma mạch máu với hạch bạch huyết ở mạc treo ruột ở chuột cống với liều cao nhất (10 mg/kg/ngày). Các u tuyến tế bào gan cũng đã được quan sát thấy trong một nghiên cứu 2 năm về khả năng gây ung thư ở chuột nhắt, cho thấy tăng nhẹ tỷ lệ của phát hiện này ở chuột nhắt đực với liều trung bình, và ở cả chuột nhắt đực và cái với liều cao nhất. Các ảnh hưởng đạt được ý nghĩa thống kê đối với chuột nhắt cái, nhưng không phải đối với chuột nhắt đực. Ở mức liều không quan sát thấy tác dụng có hại ở cả chuột nhắt và chuột cống, không có mức giới hạn về nồng độ lâm sàng. Chưa rõ ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này.
Kết quả của một nghiên cứu in vitro về độc tính ánh sáng đã cho thấy gefitinib có thể có tiềm năng độc tính ánh sáng.
BẢO QUẢN: Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C.
HẠN DÙNG: 24 tháng kể từ ngày sản xuất
THƯƠNG HIỆU: Sandoz
PHÂN PHỐI BỞI:
Công ty TNHH TM Dược Thuận Gia
781/D7 Lê Hồng Phong, Phường Hòa Hưng, TP.HCM.
XEM THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT TẠI ĐÂY!